KHIẾU NẠI - TỐ CÁO
Xem cỡ chữ: A A
In trang

Quy định chi tiết một số điều và biện pháp tổ chức thi hành Luật Tố cáo

Quy định chi tiết một số điều và biện pháp tổ chức thi hành Luật Tố cáo
Văn bản hợp nhất số 01/2026/VBHN-NĐ-TTCP quy định chi tiết một số điều và biện pháp tổ chức thi hành Luật Tố cáo, trên cơ sở Nghị định số 31/2019/NĐ-CP ngày 10/4/2019 của Chính phủ, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 156/2026/NĐ-CP ngày 15/5/2026.

Nghị định quy định chi tiết một số nội dung của Luật Tố cáo, gồm thời hạn giải quyết tố cáo; rút tố cáo; giải quyết tố cáo trong trường hợp quá thời hạn mà chưa được giải quyết; công khai kết luận nội dung tố cáo, quyết định xử lý hành vi vi phạm bị tố cáo và bảo vệ người tố cáo.

Bên cạnh đó, Nghị định quy định các biện pháp tổ chức thi hành Luật Tố cáo, gồm trình tự, thủ tục giải quyết tố cáo; xử lý thông tin có nội dung tố cáo và tiếp nhận, xử lý tố cáo do cơ quan báo chí, cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền chuyển đến; xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức có hành vi vi phạm.

Về thời hạn giải quyết tố cáo, việc gia hạn được áp dụng đối với vụ việc phức tạp và đặc biệt phức tạp. Vụ việc phức tạp được xác định khi có một trong các tiêu chí như tố cáo về một nội dung nhưng phải xác minh từ 2 địa điểm trở lên; có từ 2 nội dung phải xác minh trở lên; nhiều người tố cáo về cùng một nội dung hoặc nội dung liên quan đến quyền và lợi ích của nhiều người; có yếu tố nước ngoài; nội dung liên quan đến trách nhiệm quản lý của nhiều cơ quan, tổ chức; các cơ quan, tổ chức liên quan còn có ý kiến khác nhau hoặc có tài liệu, chứng cứ mâu thuẫn cần kiểm tra, xác minh, đánh giá. Vụ việc đặc biệt phức tạp là vụ việc có từ 2 tiêu chí trở lên.

Nghị định quy định cụ thể về việc rút tố cáo. Trường hợp người tố cáo rút tố cáo, người giải quyết tố cáo vẫn phải tiếp tục giải quyết nếu hành vi bị tố cáo có dấu hiệu vi phạm pháp luật; có căn cứ xác định việc rút tố cáo do người tố cáo bị đe dọa, ép buộc, mua chuộc; hoặc có căn cứ xác định người tố cáo lợi dụng việc tố cáo để vu khống, xúc phạm, gây thiệt hại cho người bị tố cáo.

Đối với trường hợp cơ quan, tổ chức cấp dưới quá thời hạn quy định mà chưa giải quyết, người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp giải quyết vụ việc khi có căn cứ xác định việc giải quyết của cấp dưới có vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc có dấu hiệu không khách quan theo quy định.

Kết luận nội dung tố cáo, quyết định xử lý hành vi vi phạm bị tố cáo phải được công khai, trừ những nội dung thuộc bí mật nhà nước và thông tin về người tố cáo. Việc công khai có thể thực hiện bằng hình thức công bố tại cuộc họp, niêm yết tại trụ sở, đăng tải trên cổng thông tin điện tử hoặc mạng thông tin nội bộ, thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng và cổng thông tin điện tử theo quy định.

Về bảo vệ người tố cáo, khi nhận được văn bản đề nghị áp dụng biện pháp bảo vệ, người giải quyết tố cáo có trách nhiệm xem xét, đánh giá căn cứ, tính xác thực và quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ theo thẩm quyền. Trường hợp khẩn cấp, người giải quyết tố cáo đề nghị hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ ngay lập tức.

Nghị định cũng quy định trình tự, thủ tục giải quyết tố cáo. Trước khi thụ lý, người giải quyết tố cáo tự mình hoặc giao cơ quan thanh tra nhà nước cùng cấp hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác xác minh thông tin về người tố cáo và điều kiện thụ lý. Trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định thụ lý, người giải quyết tố cáo có trách nhiệm thông báo cho người tố cáo và thông báo về nội dung tố cáo cho người bị tố cáo biết.

Trong quá trình xác minh, người giải quyết tố cáo hoặc Tổ xác minh làm việc trực tiếp với người tố cáo, người bị tố cáo; yêu cầu cung cấp thông tin, tài liệu, bằng chứng liên quan. Khi cần thiết, Tổ xác minh làm việc với cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân để thu thập thông tin, tài liệu, bằng chứng và tiến hành xác minh thực tế tại những địa điểm cần thiết.

Nghị định quy định việc ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong giải quyết tố cáo để cập nhật, theo dõi, quản lý, lưu trữ, kết nối, chia sẻ dữ liệu. Thông tin, dữ liệu về quá trình xử lý, giải quyết tố cáo được cập nhật kịp thời trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về tiếp công dân, xử lý đơn, giải quyết khiếu nại, tố cáo; đồng thời phải bảo đảm công khai, minh bạch, an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu cá nhân và bí mật nhà nước.

Đối với thông tin có nội dung tố cáo do cơ quan báo chí, cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền chuyển đến, cơ quan, tổ chức, cá nhân tiếp nhận phải phân loại, đánh giá tính chất, mức độ vụ việc. Nếu thuộc thẩm quyền, trách nhiệm của mình thì quyết định việc thanh tra, kiểm tra; nếu không thuộc thẩm quyền thì chuyển thông tin đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét, quyết định.

Nghị định cũng quy định các hình thức xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức có hành vi vi phạm pháp luật về tố cáo, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, gồm khiển trách, cảnh cáo, cách chức, buộc thôi việc hoặc bãi nhiệm theo từng trường hợp cụ thể.

Văn bản hợp nhất quy định Nghị định số 31/2019/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 28/5/2019; Nghị định số 156/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 31/2019/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 1/7/2026.

Lượt truy cập: 34328237 Đang online: 25